Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2015

DANH LAM THẮNG CẢNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂY SƠN

DANH LAM THẮNG CẢNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂY SƠN

 

I. BẢO TÀNG QUANG TRUNG


Từ thành phố Quy Nhơn theo QL 19 về hướng tây hơn 42 km là thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, quê hương của 3 anh em người anh hùng dân tộc Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Vẫn cảnh sắc quen thuộc của một vùng quê trù phú miền nam trung bộ với con sông Côn chảy giữa những nương dâu, những ngôi nhà thấp thoáng sau những rặng tre. Chính tại nơi đây đã phát sinh phong trào khởi nghĩa Tây Sơn. Bảo tàng Quang Trung và điện thờ Tây Sơn ở thôn Kiên Mỹ là nơi mà trong cả nước còn lưu giữ khá đầy đủ những di tích hiện vật có liên quan tới phong trào Tây Sơn. 

Bảo tàng Quang Trung được hình thành trên chính nền nhà cũ của gia tộc Nguyễn Huệ ở làng Kiên Mỹ, ấp Kiên Thành, nay thuộc thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, quần thể Bảo tàng Quang Trung – điện thờ Tây Sơn là khu Bảo tàng Danh nhân lớn nhất cũng là một trong những bảo tàng thu hút lượng khách đến tham quan du lịch học tập nhiều nhất trên đất nước ta hiện nay.


1. Tây Sơn điện:

Tây Sơn Điện trước đây là một đình Kiên Mỹ, được xây dựng vào những năm đầu thế kỷ XIX để bí mật thờ ba anh em Tây Sơn. Đình ở làng Kiên Mỹ, ấp Kiên Thành, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn - nay là khối 1, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Làng Kiên Mỹ là quê hương thứ hai của dòng họ Nguyễn Tây Sơn ở Đàng Trong. Từ khi về đây, cụ Cụ Hồ Phi Phúc đã góp công sức cùng nhân dân địa phương tạo dựng làng Kiên Mỹ thành làng chuyên làm nghề thủ công truyền thống kết hợp làm nông và buôn bán mà đời sông nhân dân trở nên trù phú. Nghề buôn bán trầu cau ở đây rất thuận tiện, có bến trường trầu bên bờ sông Kôn - nơi tiếp nhận trầu cau từ Tây Sơn thượng đạo chuyển về. Nguyễn Nhạc sau này có thời gian nối nghiệp cha làm nghề buôn bán trầu cau nên nhân dân thường gọi là anh Hai Trầu. Ông từng giao lưu buôn bán khắp miền xuôi, miền ngược trên dòng sông Kôn. Nhờ vậy, Nguyễn Nhạc có điều kiện chiêu hiền, đãi sĩ và khởi xướng phong trào khời nghĩa nông dân ở vùng Tây Sơn thượng đạo.
Làng Kiên Mỹ cũng là nơi hội tụ các nghĩa sĩ và là căn cứ đầu tiên của phong trào nông dân ở vùng Tây Sơn hạ đạo. Dưới sự lãnh đạo của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ mà tiêu biểu là anh hùng bách chiến bách thắng Quang Trung - Nguyễn Huệ. Người đã đưa phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn trở thành phong trào giải phóng dân tộc, đánh đuổi 5 vạn quân Xiêm và 29 vạn quân Mãn Thanh xâm lược, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.
Sau khi nhà Tây Sơn mất, triều Nguyễn - Gia Long lên cầm quyền đã thẳng tay đàn áp, tận diệt những người theo Tây Sơn và dòng họ Tây Sơn. Mặc dù sự trả thù đó vẫn còn tiếp diễn dưới các triều vua Nguyễn về sau, nhưng nhân dân làng Kiên Mỹ vẫn một lòng trung kiên, thành kính và biết ơn vô hạn đối với Triệu đại Tây Sơn. Thể hiện niềm tri ân đối với người có công với nước. năm Minh Mệnh thứ 3 (1823), nhân dân địa phương đã góp công, của xây dựng ngôi đình làng trên nền nhà củ của ông bà Hồ Phi Phúc để bí mật thờ ba anh em nhà Tây Sơn, lấy tên là đình Kiên Mỹ.
Ngôi đình nằm trong khu vườn với diện tích 2.323m2 , bên cạnh còn giếng nước và cây me do cụ Hồ Phi Phúc nuôi trồng và tạo dựng nên. Giếng nước ghép bằng đá ong, không có vữa hồ, là nguồn nước nuôi dưỡng ba anh em trưởng thành. Cây me là nơi Nguyễn Nhạc họp bàn việc nước với các nghĩa sĩ và cũng là nơi nhân dân bí mật thờ ba anh em nhà Tây Sơn sau những năm đình bị đốt cháy.
Lúc đầu, đình được xây dựng với kiến trúc theo kiểu nhà mái lá miền Trung, có diện tích trên 100m2, có tiền đường, hậu tẩm, chất liệu bằng gỗ, mái lợp tranh, vách đất, có trính cấu, cột lỏng đở các vì kèo đầu chạm long, phụng, cửa bàn pha, các cây cột ví von: "Hạc chợ đình, cột đình Kiên Mỹ". Sắc phong thành hoàng của triều Nguyễn không thờ ở đây mà đem thờ ở đây mà đem thờ ở miếu Vĩnh An thuộc xóm Hưng Trung. Như vậy, đình Kiên Mỹ xưa thờ thành hoàng là danh nghĩa, còn thực chất là thờ ba anh em nhà Tây Sơn. Vì vậy, ở vùng này có câu ca dao:
    Ai cho miễu lớn hơn đình,
    Bậu có chồng mặc bậu vẫn gọi mình bằng anh.
Nội thất đình được bài trí theo nghi thức đình làng ở miền Trung. Nhà tiền đường thờ Thành hoàng, nhà hậu tẩm thờ Tây Sơn tam kiệt. Về tổ chức ban tế lễ gồm có: Chánh bái và phó chánh bái được hội đồng bô lão lựa chọn trong số những người có học vấn và đức độ để đại diện cho nhân dân cúng tế ở đình. Các học trò gia lễ được ban khánh tiết cử ra. Tổ chức cúng kỵ vào rằm tháng 11 âm lịch, nhân tết cơm mới hàng năm để kỵ hiệp ba anh em nhà Tây Sơn, chỉ mật cáo chứ không có văn tế.
Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Đình đã bị đốt cháy. Sau đó, nhân dân lập miếu nhỏ dưới góc cây me để thờ ba anh em nhà Tây Sơn. Cây me cổ thụ đã đi vào tâm thức dân gian với lòng tri ân nhà Tây Sơn sâu nặng:
Cây me, giếng nước, sân đình
Ơn sâu, nghĩa nặng dân mình còn ghi.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đất nước tạm thời chi cắt, chính quyền Ngô Đình Diệm lên cầm quyền ở miền Nam Việt Nam. Nhân dân làng Kiên Mỹ nói riêng, nhân dân quận Bình Khê (Tây Sơn) nói chung đã góp công, của xây dựng lại ngôi đình ngay trên nền cũ, chính thức lấy tên là Tây Sơn Điện vào năm 1958. Từ đó, việc thờ cúng ba anh em nhà Tây Sơn và lễ hội kỷ niệm chiến thắng Ngọc hồi Đống Đa hàng năm đã trở thành ngày hội công khai.
Tây sơn Điện được kiến trúc theo kiểu chữ đinh, móng xây đá chẻ, vách xây gạch đặc, mái lợp ngói đúc bằng xi măng, diện tích trên 100m2. Điện thờ chính có 3 gian, chính giữa thờ Quang Trung HOàng đế - Nguyễn Huệ, bên phải thờ Thái Đức Hoàng đế - Nguyễn Nhạc, bên trái thờ Đông Định Vương - Nguyễn Lữ, tả hữu điện thờ các quan văn võ và tiên tổ dòng họ nhà Tây Sơn, tất cả đều có án thờ và trang trí theo kiểu cung đình ở miền Trung, hai đầu hồi có giá chiêng, trống để phục vụ tế lễ. Điện có ba dòng cửa pa nô bằng gỗ quý, trên đầu cửa chính điện có ba chữ Tây Sơn Điện, hai bên cửa là câu đối viết bằng chữ Hán:
Tây khê thảo thụ lưu kỳ tích
Nam quốc sơn hà ký võ công
Nghĩa là:
Cây cỏ suối Tây còn giữ gìn chuyện lạ
Sông núi nước Nam ghi chép chiến công (của ba Ngài)
Từ điện chính có nhà dẫn dài 6m, rộng 3m, trước nhà tứ giác, hai bên có hai hàng cột tròn trang trí hoa văn rồng mây quấn quanh cột, được đính bằng mẻ chai, chén vỡ đủ màu sắc rất uy nghi. Nhà tứ giác mái công, góc mai trang trí những hoa lá mái rồng, trên chóp có hồ lô thể hiện bầu thánh cứu an dân lành, trong nhà tứ giác có tượng bán thân Hoàng đế Quang Trung bằng gốm, cao 0,6m, sơn đen đặt trên bục cao 1 m, trước nhà dẫn có nhà bia hình tứ giác, bên trong đặt một tấm bia xi măng tráng đá mài xanh, nội dung văn bia ca ngợi thân thế sự nghiệp của ba anh em Tây Sơn. trước cổng điện, cổng chính rộng 6 m, hai cổng phụ hai bên rộng 1,2m, cao 7m, trên cổng là tấm biển đề ba chữ Tây Sơn Điện, hai bên trụ cổng chính có câu đối viết bằng chữ Hán:
Phi thường sự nghiệp bi thiên cổ
Khoáng thế anh hùng hựu nhất môn.
Nghĩa là: ba anh em Tây Sơn là những bậc anh hùng hiếm có ở cùng một nhà và đã làm nên một sự nghiệp phi thường tác nên bia đá nghìn đời. Trên đầu hai trụ cổng chính giữa được trang trí lồng đèn và hai trụ cổng bên ngoài được trang trí biểu tượng hai ngọn đuốc thể hiện sự tỏa sáng của chính nghĩa Tây Sơn.
Sau khi điện thờ xây dựng xong, tập thể bô lão địa phương đã bầu ra ban tế lễ gồm: Chánh bái, phó chánh bái và các học trò gia lễ đúng như nghi thức tiền lệ ở đình làng cũ. Lễ giỗ ba anh em nhà Tây Sơn vào rằm tháng 11 âm lịch gọi là kỵ hiệp và ngày giỗ trận kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa vào ngày mùng 5 tết. Tế lễ được tổ chức trang nghiêm và có đọc văn tế. Ba mẫu sáu sào ruộng của gia đình Tây Sơn bị Gia Long tịch thu sung công gọi là ngụy điền Tây Sơn cũng được chính quyền giao lại cho ban quản lý điện thợ thu hoa lợi phục vụ cúng kỵ.
Sau chiến thắng lịch sử 1975, đất nước được độc lập, thống nhất, Đảng và nhà nước đã cho phép tỉnh Nghĩa Bình (nay tỉnh Bình Định) xây dựng Bảo tàng Quang Trung bên cạnh khu di tích Điện thờ. Từ đó, Tây Sơn Điện được giao cho bảo tàng Quang Trung trực tiếp quản lý. Hằng năm, Bảo tàng phối hợp cùng bô lão địa phương thực hiện các nghi thức cúng kỵ như tiền lệ.
Trong thời gian quản lý, Bảo tàng đã nhiều lần tu bổ Điện thờ nhưng không tránh khỏi sự xuống cấp vì Điện thờ quá cũ và chật hẹp, không đủ điều kiện cho hàng vạn du khách về đây thăm viếng, tưởng niệm trong các ngày lễ, tết. Năm 1998, đáp ứng lời kiêu gọi quyên góp tiền của để xây dựng lại Điện thờ của UBND tỉnh Bình Định, các nhà hảo tâm với đạo lý "uống nước nhớ nguồn" đã tự nguyện công đức hàng tỷ đồng để xây dựng lại Điện thờ. Công trình được khởi công vào tháng 4/1998 và hoàn thành vào cuối năm, kịp phục vụ Lễ kỷ niệm 210 năm năm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa (Mùng 5 tháng giêng, năm Kỷ Mão 1999). Điện thờ xây dựng lại với kiến trúc cổ, khá quy mô và hoành tráng, tổng điện tích gấp 3 lần so với Điện thờ cũ, chất liệu bằng bê tông cốt thép, được tái hiện các hàng cột to và trính cấu như đình xưa, mái đúc bê tông dán vảy mũi hài. Góc mái cong hình mũi thuyền, trang trí hoa văn lá hóa rồng. Trên nóc Điện được trang trí "Lưỡng long chầu nguyệt" thân hình to khỏe, chân có 5 móng, vảy đính bằng các loại mảnh sứ và thủy tinh xanh, vàng rất sinh động. Điện có 5 dòng pa nô phủ màu nâu, trên đầu cửa được chạm trổ hoa văn tùng, cúc, trúc, mai. Trên đầu cửa chính có dòng chữ "Tây Sơn Điện", hai bên cửa chính có câu đối viết bằng chữ Hán:
Tây khê thảo thụ lưu huân nghiệp
Nam quốc sơn hà chấn chiến công.
Nghĩa là:
Cây cỏ ở suối Tây còn lưu lại sự nghiệp cao cả
Sông núi nước Nam chấn động những chiến công.
Trước chính điện có nhà dẫn như điện thờ cũ, hai bên có hai hàng cột to và trang trí rồng mây quấn quanh cột rất uy nghi, trước nhà dẫn có 1 tấm bia đá granite màu đỏ, ghi tóm tắt nội dung lịch sử điện thờ. Công điện giữ nguyên như cũ. Di tích giếng nước được xây nhà che hình lục giác đổ bê tông mái dan ngói vảy, cây me cổ thụ được tu bổ khang trang hơn trước.
Nội thất được trang trí theo nghi thức cũ, các án thờ được làm từ gỗ quý, Chạm trổ công phu. Án tiền điện là án công đồng, thờ chung các vị trong điện và tiên tổ dòng họ nhà Tây Sơn. Án hậu điện, chính giữa thờ Quang Trung Hoàng đế - Nguyễn Huệ, phía bên thờ Thái đức Hoàng đế - Nguyễn Nhạc, Phía bên trái thờ Đông Định Vương - Nguyễn Lữ. Hai bên điện thờ các văn võ tướng Tây Sơn. Khi điện thờ mới xây dựng xong chỉ bài trí các án thờ, đến 2004 được đưa vào 9 tượng thờ bằng gốm sứ dát vàng gồm tượng ba anh em nhà Tây Sơn và sáu văn võ tướng tiêu biểu là: Thượng thư bộ binh Ngô Thì Nhậm, Trung thư lệnh Trần Văn Kỷ, Đại tư mã Ngô Văn Sở, Thiếu phó Trần Quang Diệu, Đô đốc Bùi Thị Xuân, Đại tư đồ Võ Văn Dũng. Mỗi tượng được đặt trên một bệ bê tông ốp đá granite màu đỏ cao 1m, trước tượng là án thờ. Trên án bài trí tam sơn, đèn, đài, hạc và bát nhang bằng đồng. Trước các thờ công đồng, Thái đức Hoàng đế - Nguyễn Nhạc, Đông Định Vương - Nguyễn Lữ đặt một cặp lộc bình bằng gỗ cao 1m40 chạm nổi hoặc khảm xà cừ các tranh ngự, tiều, canh, mục hoạch long, ly, quy, phụng. trước án thờ Quang Trung Hoàng đế - Nguyễn Huệ đặt cặp hạc đứng trên lưng rùa bằng đồng, cao 1m60. Hàng cột trước án thợ hậu điện có hai câu liễn khảm xà cừ chữ Hán:
- Thiên thu công tích huynh hòa đệ
Vạn cổ anh hùng dân khả vương.
- Thần võ duy dương kinh quốc tặc
Uy danh bách thắng độc minh công
Nghĩa là:
- Công tích ngàn đời, có công anh lẫn công em
Anh hùng muôn thuở, từ người dân có thể thành vua.
- Mỗi lần ra quân, bon giặc nước đều khiếp sợ
Lưng Danh trăm trận trăm thắng, chỉ một mình Ngài.
Phía trên đàu cột là bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng, trước án thờ Quang Trung Hoàng đế - long chầu nguyệt, trước án thờ Thái đức Hoành đế - Nguyễn Nhạc và án thờ Đông Định Vương - Nguyễn Lữ trang trí họa tiết hoa lá hóa rồng. Hai đầu hồi có hai phòng để giá chiêng và giá trống phục vụ nghi thức tế lễ. Dưới sân điện thờ, ngày trước nhà dẫn đặt một lư hương bằng đồng to có mái che, hai bên cổng là hai voi đá granite màu xám, vào bên trong là cặp Kỳ lân bằng đá granite màu đỏ đứng chầu, tất cả đều do các cá nhân có lòng ngưỡng mộ sự nghiệp Tây Sơn tiến cúng.
Hiện nay, ngoài ngày hiệp kỵ Tây Sơn (15/11 âm lịch), ngày giỗ trận Đống Đa (mùng 5 tháng giêng âm lịch), còn có ngày kỵ Quang Trung Hoàng đế (29/7 âm lịch). Trong các ngày này, bảo tàng Quang Trung cùng ban nghi lễ điện thờ long trọng tổ chức cúng kỵ theo nghi thức truyền thống. Cán bộ cùng nhân dân địa phương tập trung về dự rất đông. Riêng Lễ hội kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa đã có hàng vạn du khách khắp nơi về dự và thăm viếng điện thờ, cây me cổ thụ, giếng nước gia đình Tây Sơn như về cội nguồn, về nơi địa linh nhân kiệt để thắp hương tưởng niệm, tri ân những người đã có công với đất nước với dân tộc. Điện Tây Sơn dù đã trải qua bao năm tháng nhưng vẫn được nhân dân địa phương bảo tồn và phát huy giá trị nhằm thỏa mãn đời sống tâm linh của mọi người. Với ý nghĩa đó. Điện Tây Sơn đã được Bộ Văn hóa công nhận là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

 

2. Bến sông, cây me, giếng nước


Ai đến với Phú Phong, nhẹ bước trên cầu Kiên Mỹ bắc qua con sông Kôn nổi tiếng để đến với Bảo tàng Quang Trung, cũng có thể cảm nhận được linh khí núi sông của vùng đất từng sinh ra những anh hùng áo vải Tây Sơn.  Không phải ngẫu nhiên Bảo tàng Quang Trung bắt đầu từ bến Trường Trầu bên dòng sông Kôn và kết thúc ở Điện thờ Tây Sơn tam kiệt. Với 11.057 tư liệu hiện vật gốc và hàng trăm hiện vật phục chế về Nhà Tây Sơn, Bảo tàng Quang Trung được coi đang sở hữu một kho tư liệu, hiện vật giàu có, phong phú nhất về một thời đại lừng lẫy và vị vua kiệt xuất nhất, được yêu mến nhất trong lịch sử dân tộc. Đây là thành quả một quá trình nỗ lực không ngừng của tập thể cán bộ, nhân viên Bảo tàng trong hơn 30 năm qua, kể từ ngày thành lập 1977. Bước chân của họ đã đi khắp đất nước, ra cả nước ngoài để tập hợp về đây tất cả những tư liệu hiện vật liên quan đến phong trào Tây Sơn và vua Quang Trung. Ta có thể gặp những báu vật như chiếc trống da voi của đồng bào Tây Nguyên tham gia phong trào Tây Sơn, ấn tín, các sắc phong, gia phả của nhiều văn thần, võ tướng; chuông đồng, súng thần công, ấn tín, tiền đồng Thái Đức, Quang Trung, Cảnh Thịnh, tấm bia mộ tổ dòng họ Tây Sơn…Nhiều hiện vật trong số này được nhân dân Bình Định và nhiều địa phương trong cả nước lưu giữ tặng lại bảo tàng, cũng có một số hiện vật đến thông qua đại sứ quán các nước bạn mà Bảo tàng nhờ cậy. Tuy vậy, thật xúc động là khi ta được tận mắt di tích bến Trường Trầu lặng lẽ giấu mình sau lùm tre bên bờ sông Kôn mênh mông cuộn nước, cái bến sông mà nhờ nghề buôn trầu lên nguồn xuống biển, Nguyễn Nhạc đã thu phục nhân tâm, tập hợp lực lượng nhân dân Kinh - Thượng, mưu nghiệp lớn. Càng xúc động hơn là được đứng dưới bóng me cổ thụ từng che mát anh em Nguyễn Huệ giờ vẫn xanh um và được uống những ngụm nước ngọt mát, trong vắt, kéo lên từ cái giếng nhà Nguyễn Huệ. Những ngụm nước như kéo gần lại hơn 200 năm lịch sử và ta như thấy Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, Ngô Văn Sở vừa từ Điện thờ bước ra, đến chia cùng ta gàu nước được kéo lên từ cái giếng đá ong thân thiết của họ.


Cây Me ở Bảo tàng Quang Trung - Tây Sơn: Được công nhận là cây Di sản Việt Nam.

Ngày 28 tháng 11 năm 2011 tại Bảo tàng Quang Trung, đại diện Hội Bảo vệ thiên nhiên - môi trường Việt Nam đã trao Bằng công nhận và gắn biển Cây Di sản Việt Nam cho cây me cổ thụ trong khuôn viên bảo tàng (ảnh).



Theo hồ sơ công nhận danh hiệu Cây Di sản Việt Nam, cây me di sản được xác định trên 200 tuổi, với các thông số sinh học đi kèm: có chiều cao 24m, đường kính thân 1,2m, tán lá che phủ hơn 600 m2… Đây là cổ thụ Bình Định đầu tiên được công nhận Cây Di sản, ngoài giá trị lâu năm, cảnh quan, cây me này có ý nghĩa đặc biệt về mặt văn hóa, lịch sử; được xem là biểu tượng cho sức sống, sự trường tồn của phong trào Tây Sơn trong lòng dân tộc.
Về thăm Bảo tàng Quang Trung, được đứng trên mảnh đất, ngôi nhà đã từng sinh ra, nuôi dưỡng ba anh em Tây Sơn trưởng thành, tận mắt ngắm nhìn những di vật, chiến tích hào hùng, lừng lẫy của phong trào nông dân Việt Nam khởi nghĩa vào thế kỷ XVIII, vào Điện thờ đốt nén hương thơm tưởng nhớ công tích to lớn, kiệt xuất của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ; đứng dưới gốc cây me, uống dòng nước mát ngọt của giếng nước xưa, du khách như được sống với tinh thần thượng võ, anh hùng, nghĩa hiệp, ý chí đấu tranh kiên cường bất khuất giữ gìn quê hương đất nước qua lịch sử oai hùng của phong trào khởi nghĩa Tây Sơn và những chiến công hiển hách, lừng lẫy của Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ.

3. Nhạc, võ, hai trong một


Võ thuật và trống trận Quang Trung là hai di sản phi vật thể lớn của Nhà Tây Sơn. Ba anh em Tây Sơn là những người có vai trò rất to lớn khai sáng, phát triển, hoàn thiện các võ phái Bình Định, cải cách nâng cao các bài quyền, bài binh khí để truyền dạy cho nghĩa quân. Tương truyền, Nguyễn Huệ sáng tạo Yến phi quyền, Độc lư thương, Nguyễn Lữ sáng tạo Hùng kê quyền, được coi là những độc chiêu của võ thuật Binh Định. Cũng chính Nguyễn Huệ đã chủ trương hình thức đưa nhạc trống vào khích lệ ba quân chiến đấu, còn truyền lại ngày nay với tên gọi trống trận Quang Trung.
Bởi vậy, nhà biểu diễn võ, nhạc và đội biểu diễn nhạc, võ đã trở thành một phần không thể thiếu của Bảo tàng Quang Trung. Các buổi biểu diễn nhạc, võ bao giờ cũng là một final bất ngờ và kỳ thú với du khách. Tại đấy, người ta sẽ khám phá ra ở cái xứ được gọi là đất võ trời văn này, nhạc và võ chỉ là một, trong nhạc có võ, võ cũng đầy chất nhạc, những người biểu diễn quyền cước, binh khí và kèn trống kia khó phân biệt ai là nghệ sĩ còn ai là võ sĩ. Chỉ có thể gọi họ bằng một cái tên: những nghệ sĩ –võ sĩ. Những người này đã giúp ta hiểu: võ thuật ở tầm cao và chiều sâu của nó, chính là văn hóa là nghệ thuật, và nghệ thuật, văn hóa có thể và cần phải song hành với võ công để lập nên những kỳ tích cho non sông, đất nước. Mà hình như đó là di huấn từ cuộc đời 39 mùa xuân của người anh hùng kiêm tài văn võ Nguyễn Huệ, bậc đại trí, đại dũng, đại nhân trong lịch sử dân tộc.
Chị Võ Thị Thuận,  người nghệ sĩ từng làm rung động lòng người với dàn trống trận 12 chiếc tại Bảo tàng Quang Trung và nhiều nơi trong và ngoài nước, là người nối nghiệp của một gia đình từng 9 đời đánh trống trận Tây Sơn. Hiện chị Thuận cũng đã tìm được người kế nghiệp là Phan Thị Mai, năm nay vừa tuổi hai mươi. Thăm Bảo tàng Quang Trung cuối tháng 3.2008, tôi đã được xem Mai biểu diễn, tuy chưa uyển chuyển, vũ bão như chị Thuận nhưng cũng sôi động, hào khí lắm. Có thể nói, nếu không có Bảo tàng Quang Trung, rất có thể di sản trống trận Tây Sơn đã bị tuyệt tích. Mà đó là loại di sản có một không hai, theo như một nhạc sĩ nghiên cứu về loại nhạc độc đáo này thì nó hoàn toàn xứng đáng được đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại.
Bảo tàng Quang Trung là bảo tàng duy nhất ở nước ta có một đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp trong biên chế của mình, chuyên biểu diễn nhạc, võ.

II. KHU DU LỊCH HẦM HÔ


Hầm Hô thuộc thôn Phú Lâm, xã Tây Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định cách Thành phố Qui Nhơn 50km về phía Tây Bắc. Nằm trong lòng sông Kút đổ ra sông Kôn có dòng nước quanh năm xanh biếc, vẻ đẹp Hầm Hô thật kỳ vĩ. Trước mắt du khách là cảnh núi rừng trùng điệp. Hai bên bờ sông rừng cây nguyên sinh rợp bóng mát là vách núi dựng đứng. Lòng sông có những dãy đá Hoa Cương nhiều hình thù kỳ lạ muôn màu lóng lánh, rực rỡ tạo nên kho tàng đá đầy huyền thoại. Nước sông cuộn chảy quanh co theo các ghềnh thác với các địa danh rất sử thi và lãng mạn như: Đá Thành, Đá Bàn Cờ, Đá Chùm, Đá Dựng, Đá Trải, Cửa Sanh, Cửa Tử, Thác Cá Bay, Vũng Cá Rói, Hòn Trào, Hòn Lò Rượu, Dấu Chân Khổng Lồ... luôn tạo cho du khách cảm giác mát mẻ, sảng khoái. Có thể nói cảnh quan, trời mây, sông nước Hầm Hô như là cảnh tiên thật “Sơn thủy hữu tình” càng đi vào sâu, cảnh vật càng kỳ thú, hương rừng ngào ngạt, chim hót líu lo làm cho cuộc sống thêm thi vị.


Hầm Hô còn có nhiều tên gọi khác nữa là: Linh Đỗng, Lộc Đỗng, Đồng Hưu, Lộc Giang là vùng đất địa linh nhân kiệt ở địa phương. Một di tích danh thắng có núi rừng đại ngàn trùng điệp, rộng hàng chục ngàn hecta. Có nhiều sông, suối trong mát đi qua để lại bao bến nước, vực sâu, thác cao, hang hầm thật êm đềm, thâm sâu, kỳ vĩ.
“ Hầm Hô nước chảy trong xanh
Dưới sông cá lội, trên cành chim reo”
Thuở xưa cư dân khẩn hoang, lập ấp tôn sùng Hầm Hô là vùng đất linh thiêng. Khi nắng hạn dân làng tới Hầm Hô vào ban đêm cúng trời đất, sơn thần, thủy thần dâng lễ cầu mưa. Nửa đêm giờ tý canh ba lễ cầu mưa diễn ra tại vị trí có tên gọi là Miệng Hầm Hô hoặc Thác Cá Bay. Mọi người cùng xuống sông “ Đập thác kêu trời “ và đổ lá thuốc Đơn Đơn đã giã nhỏ xuống sông làm cho Tôm, Cua, Chình, Cá bị chết. Trời đất, thủy thần phải cho mưa để cứu binh tôm, tướng cá, nếu không có mưa thì lá thuốc sẽ ngấm theo dòng chảy tiêu diệt các loài thủy sinh cả con sông dài.
Khi lễ cầu mưa bi thiết đã thấu trời đất, thánh thần, thì giữa đêm thanh vắng bỗng nghe rõ những âm thanh ào ào như nước cuốn, vù vù như gió bay, lẫn trong ấy có tiếng hô hoán của đông người như tiếng thần linh đang hú gió, gọi mây. Quả nhiên sau đó là một trận mưa giông thật lớn, nước sông tràn trề, đồng ruộng xanh tươi trở lại.
Nơi diễn ra lễ cầu mưa là một dãy đá to lớn, chắn ngang dòng sông làm nước dâng cao lên. Nước không chảy tràn qua dãy đá, mà thoát về hạ lưu ầm ầm bằng con đường hầm sâu dưới chân dãy đá. Nhìn và nghe nước chảy vào hầm sâu như một cái miệng khổng lồ đang uống nước cả dòng sông, lá thuốc Đơn đơn cũng được đổ xuống nơi này, những âm thanh báo mưa cũng phát ra rõ ràng và mạnh mẽ nhất tại đây, vì vậy mà có tên gọi là “Hầm Hô”. Cho đến nay trước những cơn mưa lớn vào mùa nắng hạn những âm thanh ấy vẫn còn xảy ra.

Ngoài cảnh quan danh thắng Hầm Hô còn là một vị trí chiến lược quân sự tự cổ chí kim, là căn cứ địa quan trọng trong phong trào nông dân khởi nghĩa Tây Sơn, phong trào Cần Vương của nguyên soái Mai Xuân Thưởng, chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Các địa danh nổi tiếng trong khu du lịch Hầm Hô


Dinh Tiền Hiền:
Là ngôi đền nhỏ nằm trên sườn núi, tả ngạn sông Hầm Hô, do dân làng lập ra đã lâu đời, thờ hai anh em ông Lê Kim Bôi, Lê Kim Bảng, người có công đức xây dựng công trình thủy lợi ngăn sông Hầm Hô. Vào cuối thế kỷ 18 thời hậu Lê. Ông Lê Kim Bôi được triều đình phong chức Điền sứ, quản lý cả dân binh, vật lực trên đất dưới nước, có quyền tiền trảm hậu tấu để xây dựng các công trình dẫn thủy nhập điền mở mang ruộng đất. Ông lâm bệnh qua đời, triều đình cử em ruột là ông Lê Kim Bảng tiếp tục sứ mạng anh mình đến khi hoàn thành đưa nước tưới cho ruộng đồng xã Tây Phú, Tây Xuân, Phú Phong bây giờ. Ông Lê Kim Bảng cũng qua đời nơi đây, dân làng an táng hai ông tại Đồng Tranh thôn Phú Lâm, lập đền thờ và tổ chức cúng giỗ để tưởng nhớ công đức hai vị tiền hiền tại dinh thờ vào lúc 0 giờ ngày 20 tháng giêng hàng năm.

Đập Hầm Hô:


Còn có tên gọi đập Lộc Đổng, đập Lộc Giang, là công trình thủy lợi đập dâng tại ngã ba sông Hầm Hô để đưa nước tưới cho hàng ngàn mẫu ruộng. Với địa hình sông nước, núi đá khắt nghiệt, người xưa đã dùng gỗ, đá, đất, lá bồi đắp thành con đập ngăn sông, dùng củi đốt cùng với muối trên tầng đá gốc cho vỡ dần ra từng mảnh làm thành kênh đầu mối, với xe đẩy cút kít, bên, xà ben chủ yếu bằng gỗ cứng (lúc ấy đò sắt hiếm) bàn tay con người lúc ấy đã đào đắp, vận chuyển hàng chục vạn khối đất cát làm thành hệ thống kênh mương dài 10km.
Cách đây trên hai thế kỷ mà làm nên công trình như vậy thật là con người có tấm lòng yêu nước thương dân. Thật là anh hùng.
Còn bây giờ một đập bê tông vững chắc được xây dựng thay cho đập cũ ngày xưa, bờ đập làm cho nước dâng lên thành một Hồ bơi êm ả, tạo thành bến đò cho thuyền đưa khách lại qua, làm lối đi sang bên hữu ngạn. Bờ đập rất đẹp khi nước vừa tràn qua rào rào như một chiếc rèm ngọc lung linh.

Hòn Bóng:
Xưa kia giữa sông có một tản đá lớn làm điểm tựa để gác đà gỗ thân đập, lâu năm nước xoáy làm trốc ngã hòn đá ấy, đập không đắp được, đồng điền khô héo, dân tình đói kém. Dân làng nhiều lần tìm cách đắp lại đập ở vị trí mới nhưng đều bị nước cuốn trôi vì không có điểm tựa. Có một tảng đá đứng sừng sững giữa sông, khi xế chiều bóng của nó ngã dài xuống đúng vị trí cần làm điểm tựa. Các hộ lão thay phiên ăn chay, nằm đất cầu trời khấn phật sao cho tảng đá ngã thật sự chỗ bóng chiếu của nó. Trong thời điểm đang cầu nguyện thì một trận lũ lớn từ xẩm tối đến gà gáy. Nửa đêm, lúc đang mưa to gió lớn nước chảy đùng đùng bổng nghe một tiếng nổ long trời lở đất ai cũng hãi kinh, sau đó nghe rõ tiếng kèn, tiếng trống vang lừng giữa dòng sông, sáng rõ mặt mọi người đều nhìn thấy tảng đá mong đợi đã ngã xuống đúng vị trí bóng chiếu của nó để làm điểm tựa đắp thành đập mới, đem lại ấm no cho xóm làng. Tên gọi “Hòn Bóng” bất đầu từ đấy.



Đá Đôi:
Cách Hòn Bóng 20m phía trên bờ đập hai hòn đá nhô lên khỏi mặt nước và áp sát vào nhau người ta gọi là “Đá Đôi” . Có người cho rằng hòn lớn là hòn mái còn hòn nhỏ là hòn trống, dù trải qua bao nhiêu trận lũ lớn, bao nhiêu bom đạn của chiến tranh diễn ra ở nơi đây nhưng hai hòn đá vẫn không lay chuyển điều đó thể hiện sự gắn bó không rời. Có quan niệm cho rằng những ai đã đến Hầm Hô đứng trước Đá Đôi tâm niệm thành khẩn thì những ai chưa có ý trung nhân không lâu sau sẽ có một người vừa ý, còn nếu những ai đã có gia đình chắc chắn sẽ có được một niềm hạnh phúc vĩnh hằng.
Cây đa bến nước:
Bên cạnh nhà hàng Hoa Lộc Vừng, một cây đa cổ thụ chừng mấy trăm năm tuổi, rễ xõa dài quấn quít cắm sâu vào lòng đất, cành xòe rộng vươn dài rợp mát cả góc rừng và bến nước trong xanh với bờ cát vàng mịn thoải chạy ra xa.
Qua bao mưa gió thăng trầm cây đa bến nước từng ấp ủ chở che cho những chuyến đò đưa khách lên xuống qua lại. Những bình minh ríu rít chim ca, những trưa hè rộn rã ve ngân, những chiều tà tĩnh lặng có chuyến đò về muộn trên sông... mà mắc võng dưới vòm lá dõi ra bến nước, hồn quê dâng đầy lên cảnh sắc và cả trong lòng ta.
“ Cây đa bến nước không già
Trải bao thu vẫn mặn mà tình quê”

Hòn chuông:
Bờ đập đi lên theo tả ngạn 100m, nhìn ra sông thấy tảng đá lớn nửa chìm, nửa nhô lên mặt nước. Ngầm dưới nước có một đường hầm ăn sâu dẫn vào giữa thân đá, đừng sợ, bạn sẽ lặn vào và nhô đầu lên khỏi mặt nước hít thở thoải mái và thậm chí có thể uống vài lon bia. Quan sát kỹ thấy như ta đang ở trong một Đại hồng chung úp miệng xuống đáy nước, thành đá nước mài nhẵn bóng và màu đỏ nhạt như đồng. Điều đặc biệt là gõ vào thành đá nghe ngân nga tiếng chuông đồng, tiếng nói, lời ca phát ra trong đá chuông nghe vang vọng, thanh toa, trầm ấm như trong phòng bá âm siêu hạng.

Đá Thành:
Qua bờ đập chúng ta đi ngược lên dòng sông theo hướng Tây Nam một đoạn vài trăm mét ghé qua sườn đá bên phải có vách đá cao dựng đứng người ta gọi là “ Đá Thành” , bởi lẽ hòn đá này đứng như một bức tường thành thực sự. Bờ đá rêu mọc xanh rì, bên trên  cây rừng mọc cheo leo, không đất bám nên các rễ cây cứ thòng xuống như những sợi tóc tiên vậy.

Đá Trải:
Nằm ở khu vực cầu cong qua sông, đá ở đây là đá mẹ không nhô cao mà trải rộng ra như những chiếc chiếu, khi mát trời hoặc lúc bơi lội ta sẽ lên ngã lưng trên đá trải ngắm trời mây sông nước, thật thư giãn.


Hòn Gõ:
Là một cụm núi chạy theo hữu ngạn Hầm Hô dài 2.000m, có nhiều gỗ quý là cây gõ bây giờ vẫn còn, cho nên có tên gọi là “Hòn gõ”. Cụm núi có phần yên ngựa bằng phẳng ở giữa nối liền hai đỉnh nhọn theo hướng Đông-Tây, chính nơi đây là căn cứ địa quân sự tự cổ chí kim như ta đã biết, vì Hòn gõ có rừng xanh che giấu, có sông nước dồi dào, có hang sâu vững chắc để trú ngụ, kể cả bom đạn hạng nặng cũng không phá được, tiến thoái, công thủ lưỡng toàn. Đứng ở đỉnh Hòn gõ nhìn ra đồng bằng thấy rõ địa bàn huyện Tây Sơn và Phù Cát, có lẽ Mai nguyên soái đã dựng cờ nghĩa quân Cần Vương tại nơi đây.
Bạn hãy lên Hòn gõ đứng ở tầm cao nhìn núi rừng, sông suối, đất trời lồng lộng và hồi tưởng những chặn đường lịch sử bi hùng, thấy lòng cảm khái mà tưởng chừng nghe đâu đây còn vang vọng tiếng quân reo.
“ Ngó vô linh đỗng mây mờ
Có Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây”

Hang Bảy Cử:
Một hang nhỏ rộng chừng 6m2 nằm sát chân thác nước đổ xuống gót đập bờ phía Nam, mái hang được che nghiêng bằng một phiến đá phẳng phiu, nền hang là cát mịn trải ra tận dòng nước chảy. Ngày xưa Mai nguyên soái thường ra ngồi trong hang vừa buông câu vừa xung luận chuyện quân cơ, ông đậu cử nhân và con thứ bảy trong gia đình nên có tên gọi “Hang Bảy Cử”. Nay đến Hầm Hô vào hang bảy cử cùng bạn bè vừa buông câu vừa đàm đạo và nâng cốc rượu Tây sơn thơm lừng thì thật tuyệt.

Hòn Bánh Ít:
Từ Hang Bảy Cử ngược theo dòng sông ta có thể bắt gặp một hòn đá gần bờ có hình dạng như một cái bánh ít, người ta gọi hòn đá này là “ Hòn Bánh Ít”, khi đến Hàm Hô đi qua Hòn Bánh Ít không ai trong chúng ta không liên tưởng một loại bánh thường có trong mỗi dịp đám giỗ truyền thống, đám rướt dâu đó là bánh ít lá gai, đây được coi là một đặt sản của Bình Định.
“Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi”

Đá Bóp Vú:
Cái tên nghe thật ngộ nghĩnh, nhưng hoàn toàn có thật. Đây là một điểm cao nằm trên triền núi Hòn gõ, ở đây đá dựng chập chùng, thác reo rộn rã, cảnh trí hùng vĩ và thu được toàn cảnh Hầm Hô trong tầm mắt, muốn đến đây phải vượt qua vách đá đồ sộ bằng một khe nhỏ chỉ có nghiêng người mới qua được, khi nghiêng mình thì ngực ta chạm vào vách đá, hai tay ta bóp mạnh vào hai núm đá nhọn như núm vú để đi lên, ai có bộ ngực nở nang thì chắc chắn phải bóp hai tay thật chặt vào hai núm đá và cọ mạnh bộ ngực mới mong vượt qua. Nhiều đôi tình nhân, nhiều nam thanh nữ tú mới quen nhau rất thích đến đá bóp vú để chàng dìu dắt nàng qua, đây là cơ hội tốt đẹp cho tình yêu nhân lên nhờ đá. Vì vậy mà có tên gọi là “Đá bóp vú”.
“Đá đứng bao năm tự thuở nào
Tựa mình vào đá thấy xôn xao
Em qua thành vách cheo leo ấy
Đá có cho em chút ngọt ngào"

Thác cá bay:
Còn có tên gọi là Miệng Hầm Hô. Nơi đây thác mạnh đổ xuống gặp dãy đá chắn ngang thì dâng lên và thoát về hạ lưu bằng đường hầm sâu với dòng chảy cực mạnh, các loài cá trên sông có tập tính là mùa mưa kéo nhau xuôi về hạ lưu, có loài ra tận biển cả để sinh sôi, mùa nắng cá bố mẹ và con cái kéo nhau ngược dòng về thượng nguồn Hầm Hô đúng nơi chúng đã ra đi không hề nhầm lẫn, khi về đến Miệng Hầm Hô chúng không bơi qua nổi dòng chảy cực mạnh ấy nên phải bay lên không trung vượt qua dãy đá rơi xuống thác để tiếp tục hành trình về nguồn. Ngày xưa ta cho rằng loài vật cũng tu luyện để hóa kiếp, vượt qua dãy đá cao nơi đây chính là một chặng sát hạch quan trọng của thiên đình đối với loài cá để có thể hóa thành rồng. Vì vậy mà có tên gọi là “Thác Cá bay”.
Hàng năm vào khoảng tháng Ba âm lịch khi gió nam bắt đầu thổi thì cá bắt đầu bay qua thác cho đến khi gió nam thổi rộ vào tháng Năm âm lịch. Vào mùa cá bay dân làng đến đặt rổ lớn bằng tre đan trên dãy đá để hứng cá bay trông rất vui mắt.

Hòn non bộ:
Nằm giữa sông kề cận với Thác cá bay là một tòa đá trải bao năm tháng được nước mài nhẵn bóng, thân đá có nhiều đỉnh nhọn, hố sâu, chi nhánh, ngóc ngách trông như dãy núi hùng vĩ thâm sâu với bốn bề nước chảy ngắm hoài không biết chán.

Dấu chân khổng lồ:
Từ Hòn non bộ, qua Thác cá bay đến Đá bàn cờ có nhiều dấu chân người in lõm vào đá cứng với kích cỡ gấp ba lần bàn chân người bình thường đi theo hướng từ Đông sang Tây. Đây là dấu chân người khổng lồ thuở xưa đã một lần qua đây.
“Đá bàn in rõ dấu chân
Khổng lồ xưa đã một lần đi qua
Tiện tay xách quả núi già
Làm Hòn non bộ để ra giữa dòng”

Đá Bàn Cờ:
Nằm cùng phía hòn Đá Bóp Vú là Đá Bàn Cờ, thuở mới khai thiên lập địa nơi đây là nơi du ngoạn dừng chân của thần tiên từ trên xuống vào những đêm khuya tĩnh lặng để vừa đánh cờ vừa uống rượu thật là một thú vui tao nhã của các vị tiên từ thời xa xưa và cho đến ngày nay. Hiện nay dấu vết bàn cờ trên đá vẫn còn nên người ta gọi là “Đá Bàn Cờ”.

Lò Nấu Rượu:
Nằm cạnh Đá bàn cờ, là tảng đá vuông vức giữa dòng sông. Trên mặt đá có khoét nhiều lỗ tròn như bếp lò để chụm củi nấu rượu, phía dưới thân đá lại có một luồng nước nhỏ chảy ra quanh năm.
“Ngày xưa tiên ở trên trời
Thấy phong cảnh đẹp đến nơi du nhàn
Bàn cờ trên đá rõ ràng
Đây là lò rượu mấy ngàn năm qua”


Thác dốc:

Nằm ở hạ lưu Vực cây cầy, thác chia ra nhiều nhánh nhỏ chảy róc rách, uốn lượn đan xen vào nhau như một trận đồ, cuối cùng các nhánh nhỏ cũng tìm về với nhau hợp thành một dòng thác mạnh đổ ầm ầm tung bọt trắng xóa chảy vào Hầm Hô.
“Ai lên Thác dốc tư bề
Nước chia trăm ngả sơn khê chảy dồn”

Hòn Trào:
Hòn đá nằm ngay chính giữa dòng sông, có mũi nhọn lưng dẹp, có sống tựa như một con khủng long thời tiền sử. Do nằm ở giữa dòng sông nước từ trên thác chảy xuống bắt gặp hòn đá này nước lại trào lên bên trên tạo thành những bọt nước trắng xóa nên chúng ta gọi đó là “Hòn Trào”.

III. KHU TÂM LINH ĐÀN TẾ TRỜI ĐẤT


Tại núi Ấn Sơn, thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn, UBND tỉnh Bình Định đã triển khai xây dựng dự án đàn tế trời đất và một số công trình du lịch. Dự án được xây dựng trên diện tích hơn 46ha gồm các hạng mục chính như: đàn tế trời đất, khu đền ấn, đường hành lễ... với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 49 tỉ đồng do BIDV vận động các doanh nghiệp hỗ trợ cùng nguồn vốn ngân sách tỉnh. Đàn tế được xây dựng trong phạm vi ngọn Ấn Sơn, rộng 46 ha. Trong đó, điểm đặt đàn tế là đỉnh núi Ấn. Đàn tế có 2 tầng nền gồm hình vuông bên dưới và hình tròn bên trên tượng trưng cho trời và đất. Quanh khu Đàn tế từ đỉnh Ấn Sơn đi xuống còn có Đền Ấn, trong đó có khu vực đặt bài vị của ba anh em nhà Tây Sơn, hồ bán nguyệt, nghi môn, nhà quản lý khu di tích…
Ấn Sơn là ngọn núi thấp, được bao bọc bởi những dãy núi cao trùng điệp. Với người dân Bình Định từ xa xưa, ngọn Ấn Sơn là nơi linh khí tụ hội.


Công trình Khu du lịch tâm linh Ấn Sơn gồm các hạng mục: Đàn thiêng để tế Trời Đất, Đền Ấn và các công trình phụ trợ (tháp Báo Thiên, sân luyện võ, khu ban quản lý, chòi nghỉ, hồ bán nguyệt, miếu thờ thổ công, cổng sân…) được bố trí theo trục thần đạo hướng Nam – Bắc trên khu đất rộng 46 ha, với tổng kinh phí trên 50 tỉ đồng, do Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tài trợ, Công ty CP Khoáng sản và Năng lượng An Phú làm chủ đầu tư.
Đàn tế trời đất tọa lạc trên đỉnh cao nhất của Ấn Sơn, cấu trúc 3 tầng: Tầng trên cùng hình tròn gọi là Viên Đàn, có đường kính 27 m, tượng trưng cho Trời, được xây bao bằng đá ong, lan can đá màu đỏ bao quanh, nền đất nện chặt, một lối lên từ hướng Nam có 5 bậc. Chính giữa Viên Đàn đặt sập đá và nhang áng đá là áng thờ Trời – Đất. Tầng thứ hai gọi là Phương Đàn, có hình vuông, chiều dài mỗi cạnh 54 m, tượng trưng cho Đất, cũng được xây bao bằng đá ong, lan can đá màu vàng bao quanh, 4 lối lên theo 4 hướng Nam-Bắc-Đông-Tây, mỗi lối lên có 9 bậc. Nơi đây khi tế lễ sẽ bố trí các áng thờ thần như: thần mặt trời, mặt trăng, các thần biển, sông, núi, đầm… Tầng dưới cùng cũng hình vuông được xây bao bằng tường đá ong có 4 lối vào theo 4 hướng, hướng chính là hướng Nam với cổng tam quan, 2 tầng, lối đi chính có 2 tầng mái, bên trong tam quan là một bức bình phong bằng đá, ba hướng còn lại là 3 nghi môn kiểu tứ trụ thẳng hàng, là nơi chuẩn bị và một số nghi thức diễn ra ở đây trước khi tế lễ.


Nằm bên phải Đàn tế là khu Đền Ấn gồm 3 hạng mục: Tiền tế có kiến trúc mặt bằng chữ Nhất, 5 gian, mái chái, có đầu đao. Nhà Tiền tế có bàn thờ chung các tướng lĩnh và quân sĩ thời Tây Sơn. Tiếp sau Tiền tế là Phương đình – nơi tượng trưng cho sự thông thiên, giao hòa giữa Trời và Đất, giữa Âm và Dương, ở đây sẽ đặt bản sao của Ấn lệnh nhà Tây Sơn. Phía trong cùng là kiến trúc Hậu cung, mặt bằng chữ nhất, 3 gian, mái chái là nơi đặt bàn thờ cùng bài vị của 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Phía trước cổng Tam quan ngoài cùng của trục chính là hồ nước hình bán nguyệt vừa tạo phong thủy tốt cho hướng chính diện của Đàn tế vừa tạo điểm nhấn cho tổng thể qui hoạch Đàn thiêng. Ngoài hồ nước còn có một “nghi môn ngoại” ngăn cách giữa không gian tâm linh với bên ngoài.
Theo truyền thuyết, trước khi khởi binh ra Bắc để thực hiện sự nghiệp thống nhất đất nước, ba anh em nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đã lên núi Ấn - ngọn núi thiêng thuộc thôn Hoà Sơn, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn lập đàn tế xin trời đất trao ấn, kiếm lệnh để dấy binh khởi nghĩa. Cảm lòng người, trời đất đã linh thiêng trao “Kiếm lệnh và ấn hình vuông có khắc bốn chữ “Sơn - hà – xã - tắc” đã phù hộ ba anh em Tây Sơn hoàn thành thắng lợi sự nghiệp thống nhất đất nước. Sau này khi Nguyễn Huệ đã trở thành Hoàng đế Quang Trung nhưng vì phải lo toan nhiều việc lớn rồi không may mất sớm nên ông chưa về lại nơi đây để lễ tạ.


Việc đầu tư xây dựng Đàn tế trời đất núi Ấn là thể hiện lòng tôn kính và ghi nhớ công lao to lớn của nghĩa quân Tây Sơn lúc ban đầu dựng cờ chống lại thù trong giặc ngoài. Đồng thời, đàn tế trời tạo nên một điểm nhấn du lịch hấp dẫn cùng với bảo tàng Quang Trung và những di tích đền thờ nghĩa quân Tây Sơn nằm trên trục đường quốc lộ 19 từ Quy Nhơn lên An Khê –Gia Lai. Theo ông Lê Hữu Lộc – Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, công trình khu du lịch tâm linh Ấn Sơn là tấm lòng của hậu nhân đối với tiền nhân lưu danh muôn thuở; có thêm công trình này, Bình Định có thêm một địa chỉ để nhân dân cả nước, du khách gần xa đến thăm viếng, bày tỏ, chiêm bái tinh thần phong trào Tây Sơn trường tồn.

IV. THÁP DƯƠNG LONG



Dương Long là cả một quần thể ba ngọn tháp nằm gần nhau, trên địa phận hai thôn Vân Tường, xã Bình Hòa và An Chánh, xã Tây Bình, huyện Tây Sơn. Tháp có nhiều tên gọi. Ngoài tên phổ biến là Dương Long, đôi khi tháp còn được gọi theo địa danh tháo Bình An, tháp An Chánh hay tháp Vân Tường. Người Pháp gọi di tích này là Tour d’ Ivoire (tháp Ngà). Theo sách Đại Nam nhất thống chí thì ba tòa cổ tháp này được xây cất trên một gò cao có tên là Dương Long, nằm ở phía Nam núi Trà Sơn.
Tháp Bắc hiện đã bị hư hại nhiều nhưng vẫn còn rõ hình hài và cấu trúc. Khác với các tháp còn lại ở Bình Định, nền móng của tháp có bình đổ hình vuông, mỗi cạnh rộng chừng 12m, nhưng được tạo bởi nhiều đường gấp khúc nên giống như một hình đa giác. Tháp cao tới gần 30m, chia làm ba phần rõ rệt. Đế tháp cao vững chắc, thân tháp cao vút, trên mặt tường trang trí các trụ ốp để trơn nâng toàn bộ mái tháp. Cửa chính tuy đã bị sạt lở nhưng căn cứ vào dấu vết còn lại và những tư liệu gián tiếp có thể thấy còm cửa được tạo dáng hình mũi lao tù vút lên phía trên với nhiều lớp liên tiếp chồng xếp lên nhau. Hai trụ cửa làm bằng đá, trên đầu được trang trí tượng chim thần Garuda chân quắp hai đầu rắn. Các cửa giả mô phỏng cửa chính nhưng nhỏ hơn và mức độ nhô ra khỏi thân tháp cũng ít hơn. Thay vì hình Garuda, trên đỉnh trụ trang trí hình lá nhĩ, vòng ngoài là thân rắn uốn quanh, bên trong là mặt Kala dữ tợn, miệng khạc ra rắn bảy đầu trong tư thế uốn lượn rất sinh động. Diềm đá ngăn cách thân và mái được chạm khắc tinh vi thể hiện hình voi và sư tử mỗi con một tư thế như vừa chạy vừa đùa giỡn kết thành dải chạy vòng quanh. Đường chạm khắc mềm mại, uyển chuyển nhịp nhàng trông rất sống động. Bộ mái có cấu trúc bốn tầng nhỏ dần về phía trên và kết thúc bằng một búp sen lớn trên đỉnh tháp. Diềm ngăn cách giữa các tầng và ô khám chính giữa mỗi tầng đều được ghép bằng đá nguyên khối.
So với tháp Bắc, tháp Nam còn tương đối nguyên vẹn. Kích thước gần như tương đương với tháp Bắc. Hai tháp tạo thành thế đối xứng xuyên qua tháp chính. Về cấu trúc, tháp Nam cũng không khác mấy so với tháp Bắc. Duy có mô típ trang trí thì hầu như ít lập lại những chủ đề đã thể hiện ở tháp Bắc, đặc biệt là dải trang trí quanh diềm mái. Trên giải giữa, hoa văn trang trí là những bầu vú tròn trịa được chạm nổi xếp đều đặn sát cạnh nhau chạy vòng quanh tháp. Dải phía trên là phù điêu các đạo sĩ ngồi thiền trong khung lá đề và dải dưới cùng là hình người, sư tử và những con vật kỳ hình dị dạng đan xen với những ô trám kết giải, giữa có bông hoa nở cánh xòe đối xứng. Trên các tầng mái, diềm bao quanh cũng được trang trí. Mỗi tầng thể hiện một cảnh khác nhau. Có thể thấy ở đây hình voi, sư tử, bò thần Nadin, mặt Kala, rắn thần Naga... với nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ đã đạt tới trình độ điêu luyện.
Lớn hơn cả và giữ vị trí trung tâm của quần thể kiến trúc là tháp Giữa. Về cấu trúc, tháp không khác hai tháp nhỏ nhưng cao vượt hẳn lên. Theo số liệu của học giả người Pháp H.Parmentier thì tháp cao tới 39m, nhưng hiện trạng đo được 36m. Là tháp chính và có kích thước lớn nhưng tháp Giữa trang trí không cầu kỳ như hai tháp nhỏ.
Căn cứ vào mặt bằng đế tháp và phong cách nghệ thuật, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tháp Dương Long tuy vẫn còn mang nhiều đặc trưng của tháp Champa nhưng đã chịu ảnh hưởng khá đậm ảnh hưởng của nghệ thuật Kh’mer. Có khả năng tháp được  xây dựng vào thời kỳ Champa bị người Kh’mer đô hộ, nghĩa là trong khoảng thế kỷ XII – XIII. Nhìn trong bố cục tổng thể cũng như xem xét chi tiết từng tháp, cụm tháp Dương Long là một quần thể kiến trúc bề thế và có thể nói là đẹp nhất trong số các tháp Champa còn lại ở miền Trung.

V. LĂNG MAI XUÂN THƯỞNG



Nằm trên ngọn đồi bên cạnh quốc lộ 19 (thuộc xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) cách Quy Nhơn khoảng 50km về hướng tây bắc. Lăng Mai Xuân Thưởng được xây dựng theo lối kiến trúc cổ để tưởng nhớ nhà yêu nước, lãnh tụ xuất sắc trong phong trào Cần Vương kháng Pháp tại Bình Định. Từ phía tây nhìn vào Tam Quan, chúng ta sẽ thấy 4 trụ cổng vuông, phía trên tạo dáng theo kiểu bầu lọ - kiến trúc theo kiểu cung đình, chùa cuối thế kỷ XIX. Sau khi leo 27 bậc tam cấp dốc dần về phía lăng, chúng ta sẽ nhìn thấy khoảng sân rộng 40m2, có lan can xây xung quanh. Từ sân tiền sảnh vào đến lăng được giật 4 cấp, trước mặt có mộ Nguyên soái Mai Xuân Thưởng. Hàng năm, đến ngày 15 tháng 4 âm lịch, nhân dân Tây Sơn và dòng họ đều tổ chức lễ dâng hương trước lăng mộ Ông. Lăng Mai Xuân Thưởng đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử ngày 20 tháng 4 năm 1995.

VI. THÁP THỦ THIỆN



Được xây trên một vùng đất tương đối thấp, trên bờ nam sông Kôn thuộc xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn cách Tp. Quy Nhơn 35km về hướng tây bắc. Tháp có quy mô nhỏ, kiểu dáng trang nhã, thanh thoát, kì bí. Tháp được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1995.

VII. HUYỆN ĐƯỜNG BÌNH KHÊ


Huyện Bình Khê (nay là Tây Sơn) được dựng đặt từ năm Đồng Khánh thứ ba (1888), là một phần của huyện Tuy Viễn phủ An Nhơn (trước nữa là Quy Nhơn) bao gồm 4 tổng: Vinh Thạnh, Phú Phong, Thuận Truyền và Trường Định. Một huyện mới ra đời thì cũng cần phải có một huyện đường mới, vì thế huyện đường Bình Khê được gấp rút xây dựng. Địa điểm chọn đặt là thôn Đồng Phó, nay là thôn Thượng Giang, xã Tây Giang, huyện Tây Sơn.

Lần theo ký ức dân gian được lưu truyền đến ngày nay ta biết huyện đường Bình Khê bấy giờ là một ngôi nhà nhỏ xây gạch, khung gỗ, mái tranh, nền đắp cao xung quanh kè đá, lát gạch thường. Huyện đường chỉ dài chừng 6m quay hướng Đông nhìn ra sông Kôn, chính giữa là công đường, nơi làm việc của quan huyện, hai bên là hai phòng để quan tiếp khách. Phía sau huyện đường là tư gia của quan tri huyện, sau nữa là nhà giam thường phạm.

Khuôn viên huyện đường xưa ngày nay là trụ sở UBND xã Tây Giang. Đó là một khu đất hình vuông rộng chừng 900m2, phía Đông giáp sông Kôn, phía Tây và Tây Bắc giáp thổ cư, phía Nam nhìn ra quốc lộ 19, nằm cách huyện lỵ Tây Sơn 12km và thành phố Quy Nhơn 50km về phía Tây Bắc, cách quốc lộ 19 nối Quy Nhơn với Buôn Ma Thuột không đầy nửa cây số. Dấu vết của huyện đường xưa nay hầu như không còn gì, ngoài phần nền nhà tương ứng với dãy nhà bên trái UBND xã bây giờ. Cũng là bời thời gian với biết bao biến cố, nhất là từ năm Bảo Đại thứ 4 (1929) lỵ sở Bình Khê dời xuống Gò Sặc (thôn Trinh Tường cũ), rồi đến năm Bảo Đại 17 (1942) lại dời xuống Vườn Quận (Phú Phong bây giờ).

Huyện đường Bình Khê từ lâu đã trở nên quen thuộc với người Việt Nam, và sẽ mãi mãi được các thế hệ người Việt Nam nhắc đến. Bởi lẽ, một thời gian cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy, thân phụ Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhậm chức tri huyện đến làm việc ở đây và có lần người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trên đường đi tìm đường cứu nước đã đến thăm cha.
Cụ Nguyễn Sinh Huy, tên cũ là Nguyễn Sinh Sắc, đỗ cử nhân năm Giáp Ngọ (1894), đỗ Phó bảng năm Tân Sửu (1901), được bổ hành tẩu bộ Lễ (1902), thăng tri huyện Bình Khê (1909). Thời gian cụ làm tri huyện Bình Khê không lâu, chỉ hơn 200 ngày (từ tháng 7 năm 1909 đến tháng 1 năm 1906) nhưng đã để lại trong lòng nhân dân Bình Khê, đương thời và sau này những tình cảm hết sức đẹp đẽ về một vị quan thanh liêm chính trực, yêu nước, thương dân, sống thanh bạch giản dị.

Với quyền hạn của quan tri huyện, Cụ thương đứng ra bênh vực dân nghèo. Cụ tha người thiếu nợ địa chủ, tha dân nấu rượu lậu mà bọn Tây Đoan bắt giao đòi bỏ tù. Với bọn cường hào ác bá, bọn lưu manh trộm cắp, Cụ nghiêm trị. Những vụ kiện lớn Cụ xử công bằng, những vụ kiện nhỏ Cụ khuyên giảng hòa. Tù oan thì Cụ thả. Là quan đứng đầu một huyện nhưng Cụ lại ngầm làm trái với yêu cầu của chính quyền. Cụ không thúc ép dân phu đài tạp dịch, có khi còn vận động nhân dân không nộp thuế, người Pháp hỏi thì Cụ trả lời: “Dân chúng không nộp cho huyện, huyện lấy đâu ra tiền nộp cho nhà nước?”. Là người yêu nước hễ có điều kiện là Cụ khích lệ tinh thần yêu nước thương dân. Chuyện kể rằng có vụ tranh chấp bờ ruộng trong dân, Cụ khuyên giải đôi bên rồi nói đầy thâm ý: “Nước mất không lo, chỉ tranh cái bờ ruộng.”

Là quan tri huyện nhưng Cụ ít có mặt ở công đường. Cụ thường giành nhiều thời gian thăm viếng dân chúng, nhất là những người nghèo. Cụ đến với dân như người thân đến với người thân, lặng lẽ chân thành, không khoa trương, không kẻ hầu người hạ. Không có khoảng cách lớn giữa Cụ với người dân bình thường. Từ bà hàng nước ở bến đò sông Kôn ngay trước mặt huyện đường họ Bùi tên gọi Sáu Chung đến ông Đỗ Trí, tức Độ Oanh, thập trưởng lính lệ Bình Khê đều cảm thấy gần gũi với quan tri huyện. Ông Bùi Phúc, tức Ba Thịnh, cháu bà Sáu Chung còn được Cụ truyền cho bài thuốc nam sau này từng đem cứu chữa cho nhiều. Lòng yêu nước thương dân, đức độ thanh liêm chính trực, lối sống giản dị của Cụ khiến cho nhà nho Bình Khê bấy giờ rất trọng vọng, nể vì. Cụ thường đến thăm tú tài Nguyễn Văn Chơn, người Đồng Phó, đàm đạo về thời cuộc (cụ tú tài Nguyễn Văn Chơn là cha của Nguyễn Hàn, tức Chánh Kham, chánh tổng Vĩnh Thạnh, người cầm đầu phong trào chống thuế của nhân dân Bình Khê năm 1908, bị Pháp bắt đầy đi côn đảo cuối năm 1908).

Trên đường từ Huế qua các tỉnh miền Trung rồi vào Nam xuống tàu ra đi tìm đường cứu nước, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã tới Bình Định, đến Bình Khê thăm cha và đã ở lại đây một thời gian ngắn. Ngôi huyện đường đơn sơ, căn nhà đơn sơ, nơi nghỉ ngơi của quan tri huyện, đất trời Bình Khê đã chứng kiến cuộc gặp gỡ lịch sử này. Chính tại nơi đây bao trăn trở trước vận mệnh dân tộc, nỗi lòng đau đáu mong muốn tìm ra con đường cứu dân cứu nước của người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Tất Thành được người cha thân yêu chia sẻ, khích lệ, động viên và tiếp thêm nghị lực .

Đã gần 100 năm trôi qua, người xưa tình cũ đều đã không còn nhưng hình ảnh một vị quan thanh liêm cùng người con trai thứ có đôi mắt sáng tinh anh vẫn sống mãi trong ký ức người dân thôn Đồng Phó, Thượng Giang ngày nay. Huyện đường xưa nay không còn nữa, cũng chưa có nhà lưu niệm nhưng người dân địa phương cũng như các cấp chính quyền địa phương vẫn có ý thức bảo vệ di tích lịch sử này, bằng việc không xây dựng công trình bền vững trên nền di tích. Đã có nhiều nhà nghiên cứu đến đây khảo sát, đã có nhiều công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh đề cập đến sự kiện này.

Tên gọi Bình Khê đã rất đỗi thân quen với người Việt Nam. Di tích huyện đường Bình Khê cần phải được tôn tạo để trở thành một điểm trong hệ thống di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, niềm tự hào của nhân dân Bình Khê - Tây Sơn nói riêng, nhân dân Bình Định nói chung.

Theo Địa chí Bình Định

0 nhận xét:

Đăng nhận xét